Biến đổi khí hậu là gì? thực trạng và nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Khí hậu trên trái đất đã thay đổi trong suốt lịch sử cho đến nay, chỉ trong 650.000 năm qua, đã có bảy chu kỳ kỷ nguyên băng hà, với sự kết thúc kỷ băng hà cuối cùng khoảng 7.000 năm trước đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên khí hậu hiện đại – và của nền văn minh nhân loại. Hầu hết những thay đổi khí hậu này được quy cho các biến thể rất nhỏ trong quỹ đạo Trái đất.

Biến đổi khí hậu là gì?

Biến đổi khí hậu là những thay đổi, biến đổi trong môi trường sinh học hoặc môi trường vật lý làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những thành phần cũng như khả năng hồi phục, phát triển sinh sản của hệ sinh thái tự nhiên.

biến đổi khí hậu

Chúng ta đều biết rằng trái đất đã ấm lên trung bình gần 1 ° C trong thế kỷ qua. Nếu chúng ta muốn ngăn chặn những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu, có một thỏa thuận toàn cầu rằng nhiệt độ tăng cần phải được giữ ở mức dưới 2 ° C từ thời kỳ tiền công nghiệp, nếu đặt được tham vọng giữ nó dưới 1,5 ° C thì càng tốt. Tuy nhiên, hiện tại, các đánh giá của các nhà khoa học bảo vệ môi trường toàn cầu cho thấy rằng hiện nay, trái đất đang trong quá trình tăng nhiệt độ lên tới 4 ° C và thậm chí sẽ cao hơn trong thời gian ngắn.

Những bằng chứng khoa học cho thấy sự biến đổi khí hậu

Các vệ tinh quay quanh trái đất và các tiến bộ công nghệ khác đã cho phép các nhà khoa học nhìn thấy bức tranh lớn, thu thập nhiều loại thông tin khác nhau về trái đất và khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Phần dữ liệu này, được thu thập trong nhiều năm, cho thấy các tín hiệu của khí hậu thay đổi. Bằng chứng cho sự thay đổi khí hậu đó là:

Nhiệt độ toàn cầu tăng

Nhiệt độ bề mặt trung bình của bề mặt trái đất đã tăng khoảng 1,62 độ F (0,9 độ C) kể từ cuối thế kỷ 19, sự thay đổi chủ yếu là do tăng lượng khí carbon dioxide và khí thải nhân tạo khác vào khí quyển. Hầu hết sự nóng lên xảy ra trong 35 năm qua, với năm năm nóng nhất được ghi nhận kể từ năm 2010. Tuy nhiên, đến năm 2016, thì tình trạng nóng nhất của toàn cầu đã được ghi vào trong lịch sử, trong đó tháng 6 là phá kỷ lục của sự nóng lên toàn cầu.

Đại dương nóng lên

Các đại dương đã hấp thụ phần lớn nhiệt lượng tăng này, với đỉnh đại dương 700 mét (khoảng 2.300 feet) cho thấy sự nóng lên hơn 0,4 độ F kể từ năm 1969.

Băng tan chảy

băng tan chảy

Các dải băng Greenland và Nam Cực bị thu nhỏ lại. Dữ liệu từ Thí nghiệm phục hồi trọng lực và khí hậu của NASA cho thấy Greenland đã mất trung bình 286 tỷ tấn băng mỗi năm từ năm 1993 đến năm 2016, trong khi Nam Cực mất khoảng 127 tỷ tấn băng mỗi năm trong cùng khoảng thời gian. Tỷ lệ mất khối lượng băng ở Nam Cực đã tăng gấp ba lần trong thập kỷ qua.

Sông băng biến mất

Các sông băng đang đang cạn dần ở hầu hết mọi nơi trên thế giới – bao gồm ở dãy Alps, dãy Himalayas, Andes, Rockies, Alaska và Châu Phi.

Độ phủ tuyết giảm

Quan sát vệ tinh cho thấy lượng tuyết phủ mùa xuân ở Bắc bán cầu đã giảm trong năm thập kỷ qua và tuyết đang tan sớm hơn bình thường

Mực nước biển tăng

Mực nước biển toàn cầu tăng khoảng 8 inch trong thế kỷ trước. Tỷ lệ trong hai thập kỷ qua, tuy nhiên, gần gấp đôi so với thế kỷ trước và đang tăng tốc nhẹ mỗi năm

Biển bị acid hóa

Kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, độ axit của nước biển bề mặt đã tăng khoảng 30%. Sự gia tăng này là kết quả của việc con người thải ra nhiều carbon dioxide vào khí quyển và do đó được hấp thụ nhiều hơn vào đại dương. Lượng carbon dioxide được hấp thụ bởi lớp trên của các đại dương đang tăng khoảng 2 tỷ tấn mỗi năm.

Nguyên nhân biến đổi khí hậu

Tác động công nghiệp hóa: Sự sống trên Trái đất phụ thuộc vào năng lượng đến từ Mặt trời. Khoảng một nửa ánh sáng tới bầu khí quyển của Trái đất xuyên qua không khí và các đám mây lên bề mặt, nơi nó được hấp thụ và sau đó tỏa ra dưới dạng nhiệt hồng ngoại. Khoảng 90 phần trăm nhiệt này sau đó được hấp thụ bởi các khí nhà kính và đẩy ngược trở lại bề mặt. Hầu hết các nhà khoa học khí hậu đều đồng ý nguyên nhân chính của xu hướng nóng lên toàn cầu hiện nay là do hiệu ứng nhà kính.

khí thải công nghiệp

Trên trái đất, các hoạt động của con người đang thay đổi nhà kính tự nhiên. Trong hàng thế kỷ qua, việc đốt nhiên liệu hóa thạch như than và dầu đã làm tăng nồng độ carbon dioxide trong khí quyển (CO2). Điều này xảy ra vì quá trình đốt than hoặc dầu kết hợp carbon với oxy trong không khí để tạo ra CO2. Ở mức độ thấp hơn, việc giải phóng mặt bằng cho nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt động khác của con người đã làm tăng nồng độ khí nhà kính.

Trong Báo cáo đánh giá lần thứ năm, Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu, một nhóm gồm 1.300 chuyên gia khoa học độc lập từ các quốc gia trên thế giới dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, đã kết luận có xác suất hơn 95% rằng các hoạt động của con người trong 50 năm qua đã góp phần khiến cho hành tinh của chúng ta nóng lên toàn cầu.

Các hoạt động công nghiệp mà nền văn minh hiện đại của chúng ta phụ thuộc vào đã tăng mức độ carbon dioxide trong khí quyển từ 280 phần triệu lên 400 phần triệu trong 150 năm qua. Hội thảo cũng kết luận có xác suất cao hơn 95% rằng các khí nhà kính do con người tạo ra như carbon dioxide, metan và oxit nitơ đã gây ra phần lớn sự gia tăng nhiệt độ của Trái đất trong 50 năm qua.

Bức xạ mặt trời: Thật hợp lý khi cho rằng những thay đổi trong việc sinh ra các tia bức xạ Mặt trời sẽ khiến khí hậu thay đổi, vì Mặt trời là nguồn năng lượng cơ bản thúc đẩy hệ thống khí hậu trên trái đất.

Thật vậy, các nghiên cứu cho thấy sự biến đổi của mặt trời đã đóng một vai trò trong những thay đổi khí hậu trong quá khứ. Ví dụ, sự suy giảm hoạt động của mặt trời được cho là đã kích hoạt Kỷ băng hà nhỏ trong khoảng từ năm 1650 đến 1850, khi Greenland bị cắt đứt phần lớn bởi băng từ năm 1410 đến năm 1720 và sông băng tiến lên trên dãy Alps.

Nhưng một số bằng chứng cho thấy sự nóng lên toàn cầu hiện tại không thể giải thích được bằng những thay đổi về năng lượng từ Mặt trời như kể từ năm 1750, lượng năng lượng trung bình đến từ Mặt trời không đổi hoặc tăng nhẹ.

Lời kết

Các nhà khoa học tin rằng trong nhiều năm tiếp theo biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục gia tăng, và đến mức báo động là sự diệt vọng của trái đất. Lượng mưa sẽ giảm dần, làm ảnh hưởng đến nông nghiệp của tất cả người dân trên khắp thế giới. Hạn hán và sóng nhiệt nhiều hơn, dữ dội hơn, mạnh mẽ hơn và không còn bất kỳ sự sống tại khu vực hạn hán nữa.

Cường độ, tần suất và thời gian của các cơn bão Bắc Đại Tây Dương, cũng như tần suất của các cơn bão mạnh nhất (cấp 4 và 5), đều tăng từ đầu những năm 1980. Mực nước biển tăng lên, trong vài thập kỷ tới, nước dâng do bão và thủy triều cao có thể kết hợp với mực nước biển dâng và sụt lún đất để làm tăng thêm lũ lụt ở nhiều khu vực. Tất cả những tác động này cuối cùng đều đánh vào sự sinh tồn của hệ sinh thái tự nhiên.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *